Thứ Năm, 26 tháng 3, 2015

[Ký sự] Những tháng ngày còn mãi (phần 3)

Những tháng ngày còn mãi (3)Cập nhật: Thứ năm, 26/3/2015 - 7h57'

Bài cuối: Tiếp quản các trụ sở bằng xe… đại tá ngụy
(Cadn.com.vn) - Ông Nguyễn Hạnh Kiểm nhanh chóng dẫn ông Vũ Đình Cảnh đến ngay nhà anh Hà Nam, một cơ sở trên đường Thống Nhất. Theo sự chỉ dẫn của cơ sở Hà Nam, họ trưng dụng chiếc xe jeep của một đại tá ngụy ở gần đó đã chạy thoát thân vài hôm trước và giao cho anh Nam trực tiếp lái xe đi làm nhiệm vụ. Chiếc xe jeep tức tốc ập tới trụ sở Tổng lãnh sự Mỹ. Đến nơi, thấy cổng mở, bàn ghế vứt bừa bãi nhưng giấy tờ, tài liệu không có một mảnh, cái lò thiêu tài liệu trong góc phòng vẫn còn nóng hổi. Té ra trước khi rút chạy, chúng đã sử dụng chiếc lò này để hủy tài liệu. Xe tiếp tục chạy sang Trại huấn luyện biệt kích ở Sơn Trà, thu được một số tài liệu quan trọng. Tại đây, các trang thiết bị, vũ khí của biệt kích vẫn còn nguyên.
Hai ông khóa cổng Trại cẩn thận rồi dán niêm phong của Ủy ban Quân quản (UBQQ). Nhìn ra phía biển, lúc này có 3 chiếc tàu lớn, quân lính chen chúc, xô đẩy nhau lên tàu. Thỉnh thoảng lại có tiếng súng ì ầm từ xa vọng lại. Chiếc xe jeep quay về trung tâm thành phố thì cờ của quân giải phóng miền Nam đã phất phới tung bay trên Tòa thị chính. Ông Kiểm bảo anh Nam cho xe tới Nha Cảnh sát Trung phần. Vào các phòng, thấy nhiều loại tài liệu vẫn còn nguyên trên bàn, kho vũ khí vẫn khóa, hai người thu được một số tài liệu, phân công lực lượng tự vệ đường phố canh giữ kho vũ khí, các trang thiết bị quân sự.
Nhận được tin bộ phận tiền phương của BANĐKQĐ do ông  Hoàng Văn Lai chỉ huy đã chiếm lĩnh được Ty Cảnh sát Đà Nẵng ngụy trên đường Gia Long, ông Kiểm, ông Cảnh  đến báo cáo một số tình hình với ông Lai. Ông bảo: "Lực lượng ta đang có mặt trong thành phố. Một vài đơn vị đã chiếm giữ được sân bay Đà Nẵng, Tòa thị chính, Đài Phát thanh, Nhà máy điện, Nhà máy nước. 7 giờ tối nay chúng ta tập trung tại đây để bàn kế hoạch tiếp theo".  Tối đến, tại Ty Cảnh sát Đà Nẵng, ông  Lai nghe các cánh quân của BANĐKQĐ và tổ công tác của ông Cảnh, ông Kiểm báo cáo tình hình trong ngày và triển khai nhiệm vụ. Ông nói: "Một số cây cầu trên quốc lộ 1 đã bị địch phá làm hư hỏng trước khi rút chạy, bộ  đội chủ lực đang bắc cầu phao để tăng cường quân vào.
Theo tài liệu của chúng ta, hiện nay, toàn thành phố có khoảng hơn 10 vạn tên địch, chúng ta cần phải biết chúng đang ở đâu, đặc biệt là những đối tượng nguy hiểm để kêu gọi trình diện và truy bắt. Sáng mai tôi sẽ báo cáo Chủ tịch UBQQ Đà Nẵng bắt đầu làm thủ tục cho trình diện vào ngày 31-3". Sau một lát suy nghĩ, ông Lai nói: "Anh em BANĐKQĐ lâu nay đánh địch, diệt ác, phá kiềm, chưa có kinh nghiệm làm các thủ tục trình diện. Mấy anh của Bộ tăng cường có ý kiến gì hay về việc này không?".
Từng tham gia lập hồ sơ việc đăng ký trình diện khi tiếp quản Hải Phòng, là cán bộ CA tỉnh Thanh Hóa chi viện cho BANĐKQĐ cũng từng làm công tác đăng ký trình diện tại CATP Hà Nội khi giải phóng thủ đô nên ông Cảnh và ông Vọng phát biểu đề xuất một số công việc phải khẩn trương triển khai. Được ông Hồ Nghinh, Ủy viên Ban Thường vụ Khu ủy 5, Chủ tịch UBQQ nhất trí, một số việc được giao cho các ngành như soạn lời tuyên truyền, kêu gọi binh lính nộp vũ khí, trình diện được giao cho Ban Tuyên huấn tỉnh, mẫu mã, nội dung khai báo, giấy chứng nhận trình diện... do ông Cảnh và ông Vọng soạn thảo rồi cho in ấn ngay. Cấp tỉnh chịu trách nhiệm đăng ký trình diện số sĩ quan từ đại úy trở lên, các đối tượng cầm đầu đảng phái phản động, số còn lại giao cho UBQQ cấp quận và cho xe đi các ngả đường kêu gọi đăng ký trình diện.
Cờ giải phóng tung bay trên Tòa thị chính Đà Nẵng ngày 29-3-1975. Ảnh: T.L
Sáng 3-4, rất đông người đến trước trụ sở Tòa án trên đường Bạch Đằng, địa điểm đăng ký trình diện của UBQQ cấp tỉnh nhưng rất lâu vẫn không thấy ai vào bàn đăng ký vì họ sợ bị cách mạng bắt. Gần trưa mới thấy một người trông vẻ trí thức, mặc veston, đội mũ phớt bước vào bỏ mũ chào ông Cảnh. Sau khi ngồi, ông ta chìa tấm thẻ với chức danh Thị phó Hội An. Ông Cảnh làm thủ tục đăng ký và cấp giấy đã trình diện cho ông ta và bảo cứ yên tâm về nhà. Ông ta ngạc nhiên hỏi lại: "Thưa ông, tôi được tự do?". "Đúng vậy, ông cứ về tiếp tục khai báo những phần đã yêu cầu trong mẫu này"-ông Cảnh chỉ tay vào tờ giấy vừa đưa cho ông ta và nói. Nét mặt ông ta lộ rõ vẻ hớn hở, vui mừng. Thấy ông ta bình thản bước ra, 2 người khác từ ngoài bước vào, đưa ra 2 giấy chứng minh mang quân hàm trung tá thuộc Quân đoàn I ngụy.
Sau khi lập danh sách trích ngang, ông Cảnh  cấp giấy chứng nhận để họ ra về tiếp tục khai báo một số chi tiết theo yêu cầu. Thấy sĩ quan cấp tá cỡ bự ra trình diện rồi về lại gia đình, buổi chiều nhiều người chen nhau vào trình diện sớm, trong đó có người đưa giấy tờ để chứng minh mình là thủ quỹ kho bạc Đà Nẵng rồi đưa cho ông Cảnh chùm chìa khóa và nói rằng kho bạc hiện còn nguyên vẹn. Anh ta còn đưa cho ông Cảnh một số mẫu tiền ngụy quyền Sài Gòn giả để tiện việc phân biệt. Lát sau, một thiếu tá bảo quản kho tài liệu của cơ quan tình báo "Biệt đội sưu tầm" vào trình diện. Ông Cảnh khấp khởi mừng thầm, bởi đó là những tài liệu rất cần thiết mà lực lượng an ninh chưa thu giữ được. "Kho tài liệu ở đâu, còn không?"-ông Cảnh hỏi, giọng gấp gáp. "Dạ, thưa ông, còn nguyên, tôi vừa ở đó tới đây"-anh ta trả lời. Thế là ông Cảnh cùng ông Kiểm lên xe đến ngay kho tài liệu trên đường Nguyễn Du thì thấy một đơn vị bộ đội thông tin đang tiếp quản. Hai ông xuất trình giấy tờ với chỉ huy đơn vị và đề nghị đơn vị chuyển toàn bộ tài liệu vào một phòng lớn rồi niêm phong, giao cho quân đội bảo vệ...
Ngày 3-4, Đoàn binh vận, Bộ Quốc phòng đến yêu cầu tiếp nhận công tác đăng ký trình diện. Ông Hoàng Văn Lai đồng ý giao cho quân đội và chỉ đạo lực lượng an ninh tiếp tục nắm thông tin các tình báo, gián điệp, cảnh sát, nhân viên ngụy quyền để có kế hoạch xử lý phù hợp. Ngày 4-4, một đoàn cán bộ mang giấy giới thiệu của Ngân hàng Trung ương do người lính thủ kho kho bạc hôm nọ dẫn đến. Đoàn đề nghị ông Cảnh giao chùm chìa khóa các két sắt để Ngân hàng quản lý.
Ngày 5-4, thấy số binh lính trình diện thưa dần và dứt hẳn, ông Hoàng Văn Lai ra lệnh cho lực lượng an ninh tiến hành truy bắt các đối tượng ngoan cố, không chịu trình diện và qua đó một số đối tượng đã bị bắt, khám xét, thu giữ được nhiều tài liệu quan trọng. Được cơ sở phát hiện có một Tổng trưởng Tài chính (Bộ trưởng) của chính quyền Sài Gòn ra Đà Nẵng bị kẹt lại, đang ở trong nhà người thân, không chịu khai báo, ông Cảnh và ông  Kiểm tức tốc đến nơi. Khi thấy lực lượng an ninh, ông ta nhận ngay mình là Tổng trưởng. Ông Cảnh hỏi: "Ông thấy cộng sản ra sao?". "Tôi cứ tưởng cộng sản thế này, thế kia, ai ngờ các ông rất hiền và tốt quá, không phải như tôi và nhiều binh lính Việt Nam cộng hòa lầm tưởng".
Tổ công tác đưa ông ta về một địa điểm bí mật, giải thích sự khoan hồng của cách mạng, đồng thời đề xuất với cấp trên cho ông ta về lại Sài Gòn để tuyên truyền rằng không có sự tắm máu, thanh trừng của cộng sản ở các vùng vừa được giải phóng như địch từng lừa phỉnh. Được sự chỉ đạo của BANK5, tổ điệp báo liền cử người đưa ông ta vào Nha Trang, bàn giao cho tổ công tác của ông Hoàng Lượng để tiếp tục cho vào Sài Gòn. Ngày 9-4, Bộ CA điều động 250 CBCS của CATP Hải Phòng, CA tỉnh Thanh Hóa cho BANĐKQĐ bằng đường thủy và tất cả số này được Trưởng ban Hoàng Văn Lai bố trí ngay cho các đơn vị nghiệp vụ của Ban và an ninh các quận để tiếp tục giữ vững ANTT Đà Nẵng.

Thái Mỹ

Nguồn: http://cadn.com.vn/news/65_129411_nhu-ng-tha-ng-nga-y-co-n-ma-i-3-.aspx

Thứ Tư, 25 tháng 3, 2015

[Ký sự] Những tháng ngày còn mãi (phần 2)

Những tháng ngày còn mãi (2)Cập nhật: Thứ tư, 25/3/2015 - 7h0'

* Bài 2: Mấy anh giải phóng cũng giống mình thôi!
(Cadn.com.vn) - Ông Hoàng Văn Lai  được Ban Thường vụ cử ra cánh bắc Hòa Vang phổ biến nghị quyết của Tỉnh ủy và kiểm tra công tác an ninh. Trước khi đi, ông đề nghị với lãnh đạo BANK5 cho tổ điệp báo của ông Vũ Đình Cảnh, Nguyễn Hạnh Kiểm đi cùng để họ giúp lực lượng an ninh huyện và cơ sở về nghiệp vụ. Ông Hoàng Văn Lai đưa cho ông Vũ Đình Cảnh một tập giấy trắng, có đóng dấu “Ủy ban mặt trận dân tộc giải phóng tỉnh Quảng Đà” rồi nói: “Anh xuống đó cố gắng kết hợp với an ninh huyện chọn những đối tượng chủ chốt rồi dùng những tờ giấy này viết thư kêu gọi, tức là tấn công chính trị”. Sau vài ngày hướng dẫn công tác nghiệp vụ an ninh, ông Vũ Đình Cảnh lần lượt viết các bức thư theo yêu cầu của cơ sở, của các trinh sát an ninh huyện, xã gửi cho một số sĩ quan, binh lính, ngụy quyền, kêu gọi chúng chấm dứt gây tội ác, buông súng quay về với nhân dân, với cách mạng sẽ được khoan hồng, những ai ngoan cố sẽ bị trừng trị. Có những bức thư được chuyển tới một số nhà tư sản có cảm tình với cách mạng kêu gọi họ ủng hộ vật chất và họ thông qua cơ sở chuyển tiền đóng góp vào “Quỹ chống Mỹ cứu nước” ở địa phương.
Mặc dù Hiệp định Paris đã được ký kết ngày 27-1-1973, song địch tăng cường lực lượng chống phá. Chúng ra sức càn quét, bắn phá, bắt bớ, tra tấn bất cứ người dân nào chúng nghi ngờ là cộng sản. Ở thành phố cũng như các vùng địch tạm chiếm, chúng ép buộc nhân dân hoặc cho quân lính vẽ cờ của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu lên khắp tường nhà, cổng ngõ với ý đồ rằng: “Sau Hiệp định sẽ có Ủy ban giám sát quốc tế kiểm tra sẽ thấy nhiều vùng lãnh thổ đang bị Việt Nam cộng hòa kiểm soát, cộng sản bị đẩy lên núi thì làm sao có dân, có đất”. Nắm được chiến lược của địch, cả hệ thống chính trị cách mạng dồn lực lượng xuống cơ sở cắm cờ, giữ đất. Hằng ngày đạn bom liên tục cày xới khắp làng mạc, xóm thôn, lực lượng cách mạng và không ít chiến sĩ BANĐKQĐ hy sinh.
Đoàn quân giải phóng tiến vào Đà Nẵng ngày 29-3-1975. Ảnh: T.L
Trước yêu cầu thực tiễn tình hình, Bộ CA tăng cường cho tổ điệp báo Đà Nẵng một số cán bộ, trong đó có ông Nguyễn Trọng Hồi, Phó phòng Chấp pháp CATP Hải Phòng. Nhận được tin báo của BANĐKQĐ vừa bắt giữ được 6 tên biệt kích xâm nhập vào một số căn cứ ở vùng B Đại Lộc để thăm dò tin tức, BANK5 liền cử ông Nguyễn Hạnh Kiểm và ông Nguyễn Trọng Hồi lên ngay Trại giam Quảng Đà đấu tranh, khai thác. Tại đây, ông Hoàng Văn Đan, Phó khu CA Hồng Bàng, Hải Phòng chi viện cho BANĐKQĐ đang làm Giám thị. Qua đấu tranh, được biết toán biệt kích này được đào tạo tại Trung tâm huấn luyện Sơn Trà, sau đó dùng máy bay trực thăng thả vào một số bìa rừng để lấn sâu vào căn cứ địa cách mạng và một số tên khác được chúng tung ra miền Bắc. Cũng tại trại giam, ông Kiểm, ông Hồi còn tiếp tục khai thác 1 đại úy, Chi khu trưởng Thượng Đức, một số sĩ quan an ninh quân đội, biệt đội sưu tầm... bị bắt giữ, do đó thu thập được nhiều thông tin về mạng lưới tình báo, gián điệp, cảnh sát của địch.
Nhân dân Đà Nẵng vui mừng chào đón quân giải phóng ngày 29-3-1975.
Sau khi tấn công giải phóng Buôn Ma Thuột, thủ phủ của địch ở Tây Nguyên, ngày 15-3-1975, ông Vũ Đình Cảnh được lãnh đạo BANK5 nhận mệnh lệnh mới. Hơn một ngày đường vất vả ông Cảnh mới về tới căn cứ Ban và được quán triệt Nghị quyết của Thường vụ Khu ủy Khu 5 quyết tâm giải phóng Đà Nẵng và giao một số nhiệm vụ trọng tâm cho tổ điệp báo. Ngày 16-3, trên đường trở về, ông Cảnh gặp đoàn công tác của ông Hoàng Văn Lai, hỏi: “Ban gọi anh về có việc chi rứa?”- “Nhận lệnh chuẩn bị tấn công giải phóng Đà Nẵng anh à. Anh chưa biết hả?”-ông Cảnh trả lời và hỏi lại với ánh mắt đầy ngạc nhiên. “Có chứ. Mình mới nhận được điện của lãnh đạo BANK5 đây thôi”- ông Lai trả lời. Các ông Vũ Đình Cảnh, Nguyễn Hạnh Kiểm nhanh chóng củng cố một số tài liệu về tình hình địch, lập danh sách các trụ sở quan trọng của địch, nhất là các trụ sở của hệ cảnh sát đặc biệt, các tổ chức tình báo, gián điệp, biệt đội sưu tầm Vùng 1 chiến thuật đóng tại Đà Nẵng, địa chỉ nhà riêng của những tên ác ôn, những đối tượng nguy hiểm... để chuẩn bị phục vụ chiến dịch. Ngày 17-3, tổ điệp báo chia làm 2 mũi bí mật áp sát vùng ven thành phố để tiếp nhận thông tin từ nội thành báo ra. Nhiều cơ sở cho biết lúc này tình hình nội bộ địch ở phía bên trong rất hoang mang, bấn loạn, có một số binh sĩ đã đào ngũ, xe của lực lượng quân cảnh, cảnh sát hụ còi inh ỏi khắp đường phố truy lùng, tìm kiếm số binh lính bỏ trốn. Ngày 24-3, quân giải phóng tấn công chiếm lĩnh thủ phủ thị xã Tam Kỳ và tuyến đường Quốc lộ 1A bị cắt đứt, cô lập hoàn toàn thì bọn binh lính tại Đà Nẵng càng náo loạn. Ngày 26-3 bị tấn công dồn dập ở Huế, số tàn quân bại trận tại Huế chạy dồn về Đà Nẵng bằng nhiều loại phương tiện giao thông. Lúc này, Trung tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Vùng I Chiến thuật kêu gào binh lính phải tử thủ Đà Nẵng đến cùng nhưng rạng sáng ngày 28-3, khi pháo của quân giải phóng nã liên hồi vào sân bay Đà Nẵng thì tướng Ngô Quang Trưởng cũng nhanh chóng xuống cảng nhảy lên tàu chuồn vào Sài Gòn, bỏ mặc đám tàn quân bệ rạc.
Mờ sáng ngày 29-3-1975, ông Vũ Đình Cảnh và ông Nguyễn Hạnh Kiểm hội ý nhanh và tiến vào thành phố. Lúc này có nhiều cánh quân của bộ đội và lực lượng BANĐKQĐ cũng ồ ạt tiến vào với nhiều mũi. Ông Kiểm hỏi ông Cảnh: “Chúng ta mặc trang phục thế nào khi vào thành phố?”- “Nếu mặc quần áo bình thường thì dễ bị dân và quân địch nhầm, không có lợi, đôi khi nguy hiểm nữa. Mình nên mặc quần áo quân giải phóng”-ông Cảnh trả lời. Thế là họ thay quần áo, đội mũ tai bèo, đeo thắt lưng súng ngắn K59 ra Quốc lộ 1 đón xe đò vào Đà Nẵng. Trên đường vào thành phố, từng đoàn binh lính cởi trần, không giày, không mũ, chỉ vỏn vẹn chiếc quần đùi dính trên người chạy về hướng ngược lại. Xe đến chợ Cồn, dân xúm lại “coi mấy ông cộng sản”. Ngay lúc đó có một phụ nữ nhận ra ông Kiểm, tiến sát đến chào hỏi và người phụ nữ ấy chính là cơ sở của ông được cài cắm trong nội thành. Thấy ông Kiểm nói chuyện thân mật với người phụ nữ, nhiều người xúm tới gần hơn, họ nhìn từ đầu đến chân “hai ông giải phóng”. Bỗng có tiếng ai đó trong đám đông: “Mấy anh giải phóng cũng giống như mình thôi chớ có khác chi mô. Họ như ri mà nói 7 người cộng sản ngồi trên cọng đu đủ không gãy, thật là sự bịp bợm, lừa dối”.

Thái Mỹ
(còn nữa)

Thứ Ba, 24 tháng 3, 2015

[Ký sự] Những tháng ngày còn mãi

Những tháng ngày còn mãi
Cập nhật: Thứ ba, 24/3/2015 - 7h30'
Bài 1: Tiền tuyến gọi, hậu phương đáp lời
(Cadn.com.vn) - Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, lực lượng an ninh Đặc khu Quảng Đà đã vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, lập được nhiều chiến công vang dội, góp phần làm ngời sáng các trang sử hào hùng của lực lượng CAND. Những tên đất, tên làng, những triền sông, bờ suối của xứ Quảng đều in đậm những bước chân của người chiến sĩ an ninh thời đạn bom khốc liệt. Và ở những nơi ấy cũng có không ít máu xương của những người chiến sĩ an ninh thấm sâu vào lòng đất để hóa thành khúc tráng ca bất tử, trong đó có cả những người con ưu tú từ quê hương sông Mã và TP hoa phượng đỏ chi viện cho mặt trận Quảng Đà. 
Để tăng cường lực lượng cho chiến trường Khu 5, tháng 9-1967, Bộ CA  quyết định điều động gần 100 CBCS thuộc CATP Hải Phòng chuẩn bị lên đường. Họ được tập trung ở Văn Môn, Thái Bình để quán triệt tình hình, nhiệm vụ mới chỉ vỏn vẹn có vài ngày rồi đi ngay, không kịp chia tay người thân, gia đình. Đoàn được ưu tiên ngồi chung với xe tải "Zin 3 cầu" chở gạo vào chiến trường. Đoàn xe vào tới địa phận Hà Tĩnh bị máy bay địch đánh phá dữ dội, nhiều cánh rừng Trường Sơn cháy trụi. Để đảm bảo an toàn, cấp trên cho xe chở lương thực đi trước, đoàn CBCS bắt đầu đi bộ trèo đèo, lội suối.
Sau gần 80 ngày vượt núi, xuyên rừng, họ đến căn cứ Ban An ninh Khu 5 (BANK5) đóng tại Thạnh Mỹ, H. Giằng, Quảng Nam. Ông Nguyễn Sanh Châu, Trưởng BANK5 tiếp nhận đoàn và ông Vũ Đình Cảnh, một cán bộ trong đoàn chi viện nhận ra ngay người lãnh đạo Ban, bởi trước đó ông Châu là Phó cục trưởng Cục Phản gián, Bộ CA được đưa vào làm Trưởng ban. Ông Châu bảo: "Hiện nay  Khu 5 ác liệt lắm. Anh em ở Ban mới từ chiến trường Quảng Đà về đây. Để phục vụ cho cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968, BANK5 đã dồn lực lượng quyết tâm chiếm lĩnh Đà Nẵng, song bị lộ, địch phản công dữ dội, nhiều đồng chí hy sinh, cơ sở của an ninh trong nội thành bị phá vỡ không ít.
Khi rút về đây, không có gạo, anh em phải ăn sắn, rau rừng thay cơm, không có muối nhiều ngày". Dứt lời, ông Châu đưa tay áo gạt nước mắt làm cho CBCS trong đoàn ai cũng rưng rưng theo. Ngày hôm sau, đoàn được lệnh di chuyển về xã Nước Tông, H. Trà My để tăng gia sản xuất. Do ăn khoai sắn liên miên, sức khỏe của CBCS giảm sút trầm trọng, nhiều người ngã bệnh nên ông Châu cử trinh sát Vũ Đình Hòe, một chiến sĩ cũng từ CATP Hải Phòng vào trước phụ trách tổ công tác xuống đồng bằng tìm gạo.
Hơn 2 ngày luồn rừng, tổ lo liệu hậu cần cũng tiếp cận được một số cơ sở của Ban ở xã Trà Lãnh, H. Trà Bồng, Quảng Ngãi để nhận gạo do bà con nơi đây đóng góp, song con đường tiếp tế này cũng chẳng được bao lâu, vì địch phát hiện, liên tục đánh phá. Ban đêm, chúng thường dùng máy bay thả quả sáng, nã pháo cầm canh. Có lúc trực thăng địch đổ các toán biệt kích đánh chặn đường. Việc lấy gạo hết sức khó khăn và nguy hiểm, lãnh đạo Ban yêu cầu tỉa bắp, trồng khoai, mặt khác cử người đánh bắt cá ở suối, săn thú rừng để lấy sức chiến đấu lâu dài.
Đại tá Nguyễn Hạnh Kiểm (áo trắng) trong dịp cùng lãnh đạo Bộ CA thăm hỏi Mẹ VNAH tại TP Đà Nẵng.
Một thời gian sau, đoàn CBCS CATP Hải phòng tăng cường được lãnh đạo BANK5 lần lượt đưa về các địa phương, quân số chủ yếu bổ sung cho Ban An ninh Đặc khu Quảng Đà (BANĐKQĐ). Ông Nguyễn Văn Sửu, quê ở Phú Yên, nguyên Phó phòng Bảo vệ Chính trị CATP Hải Phòng giữ chức Phó ban An ninh tỉnh Phú Yên. Trên đường đi nhận nhiệm vụ mới thì bị địch phục kích, ông hy sinh. Bọn địch lấy ba lô, hành lý của ông đưa về TX Quảng Ngãi trưng bày, rêu rao "quân lực Việt Nam cộng hòa đã tiêu diệt được tên Việt cộng cỡ bự từ miền Bắc mới xâm nhập vào".
Các ông Hoàng Lượng, Nguyễn Đăng Vự, Nguyễn Văn Thanh, Vũ Đình Cảnh được lãnh đạo Ban điều về Phòng Điệp báo và công tác an ninh vùng địch (B3) và thành lập 3 tổ điệp báo. Ông Hoàng Lượng phụ trách tổ ở Nha Trang, thủ phủ Quân đoàn 2 ngụy, ông Nguyễn Đăng Vự, phụ trách tổ ở Quảng Ngãi, ông Vũ Đình Cảnh phụ trách tổ ở Đà Nẵng, thủ phủ của Quân đoàn I ngụy. Riêng tổ của ông Vũ Đình Cảnh được BANK5 bổ sung thêm ông Nguyễn Hạnh Kiểm (nguyên Giám đốc CA tỉnh QN-ĐN) và ông Nguyễn Hòa từ BANĐKQĐ sang.
Sau khi nhận nhiệm vụ từ người trưởng BANK5 và Trưởng phòng B3 Lê Lực, ông Nguyễn Hạnh Kiểm chọn địa bàn đứng chân ban đầu tại xã Phú Diên, H. Quế Sơn, bởi đây là vùng tranh chấp, có phong trào cách mạng khá mạnh, được nhân dân đùm bọc, chở che, có điều kiện thuận lợi cho công tác điệp báo nên lãnh đạo Ban đồng ý ngay. Ngày hôm sau, tổ điệp báo ông Vũ Đình Cảnh gấp rút xuống địa bàn, trên đường đi họ tranh thủ ghé lại nơi đứng chân của BANĐKQĐ gặp ông Hoàng Văn Lai, Trưởng ban để báo cáo một số tình hình, đồng thời đề nghị ông chỉ đạo lực lượng điệp báo của BANĐKQĐ và an ninh các quận, huyện để phối hợp.
Biết ông Vũ Đình Cảnh là người Hải Phòng chi viện, ông Hoàng Văn Lai hỏi, giọng ngậm ngùi: "Đồng chí ở CATP Hải Phòng, có biết đồng chí Phạm Văn Chữ cũng ở ngoài nớ được tăng cường cho Quảng Đà từ năm 1965 không?"- "Dạ thưa anh! Biết chứ. Anh Chữ hồi đó là Phó phòng Tổ chức cán bộ CATP Hải Phòng"- ông Cảnh trả lời. "Anh Chữ hy sinh rồi, mộ ảnh chôn ở gần đây thôi"-giọng ông Lai chùng xuống nghẹn ngào! Ông Hoàng Văn Lai liền cử người dẫn ông Cảnh đi thăm mộ ông Chữ nhưng khi đến nơi chỉ còn cái hố nho nhỏ vì lũ lụt đã cào cuốn hài cốt  ông đi mất. Chia tay ông Lai, các ông Vũ Đình Cảnh, Nguyễn Hạnh Kiểm và Nguyễn Hòa xuống xã Phú Diên. Đây là xã nằm sát Quốc lộ 1A, rất tiện liên lạc với cơ sở trong thành phố, lại có rất nhiều đồi núi, lau lách um tùm, dễ dàng che mắt địch.
Đến nơi, tổ điệp báo chọn địa điểm dựng lán, đào hầm bí mật, hầm tránh pháo để đồn địch ở gần đó cũng như máy bay trinh sát không phát hiện, đồng thời từng bước liên lạc với các cơ sở để tiếp nhận thức ăn. Do có nhiều cơ sở từ lúc còn ở BANĐKQĐ nên ông Nguyễn Hạnh Kiểm đã nhanh chóng xây dựng được nhiều cơ sở nên từ đó tổ điệp báo rất thuận lợi cho việc phát triển rộng hơn mạng lưới, đặc biệt là công tác tuyển chọn cơ sở hoạt động hợp pháp để ra vào dễ dàng trong nội thành. Mặt khác, đích thân các ông Nguyễn Hạnh Kiểm, Nguyễn Hòa hóa trang nhiều vai để luồn sâu trong lòng địch, triển khai các biện pháp cài cắm cơ sở, đồng thời tuyên truyền, thuyết phục một số người tốt làm giao liên, đặc biệt mẹ ông Nguyễn Hạnh Kiểm ở xã Điện Hòa, H. Điện Bàn đã mưu trí, dũng cảm vượt qua hàng rào lưỡi lê, họng súng của kẻ địch căng dày ngày đêm tiếp tế lương thực, thực phẩm cho tổ điệp báo.
Do có tin từ mật báo viên, một ngày thượng tuần tháng 7-1972, địch triển khai lực lượng với nhiều sắc lính tập kích vào địa bàn hoạt động của tổ điệp báo. Tổ công tác vừa chiến đấu, vừa tìm cách rút lui. 2 chiến sĩ an ninh vũ trang của tổ điệp báo có nhiệm vụ bảo vệ cho các cán bộ của tổ mỗi khi gặp khó khăn cũng như những lúc họ xâm nhập vào nội thành là Tân và Trung đã kiên cường chiến đấu và ngã xuống khi tuổi đời còn phơi phới sức xuân.
Thái Mỹ 
(còn nữa)


Thứ Hai, 8 tháng 12, 2014

[Tin tức] Trung tướng Bùi Quang Bền thăm, tặng quà lực lượng Công an tại TP Đà Nẵng

Trung tướng Bùi Quang Bền thăm, tặng quà lực lượng Công an tại TP Đà Nẵng
Cập nhật: Thứ bảy, 19/7/2014 - 8h46'
(Cadn.com.vn) - Chiều 18-7, Trung tướng Bùi Quang Bền - Ủy viên T.Ư Đảng, Thứ trưởng Bộ CA, Trung tướng Trần Văn Nhuận - Phó tổng cục trưởng Tổng cục XDLL Bộ CA cùng đoàn công tác của Bộ đã đến thăm và làm việc với Bệnh viện 199, tặng quà cho các đồng chí thương binh, con em liệt sỹ, người có công đang chữa bệnh tại đây.
Trung tướng Bùi Quang Bền thăm hỏi, tặng quà Mẹ VNAH Nguyễn Thị Cơ.



Thứ trưởng Bùi Quang Bền chỉ đạo Ban Giám đốc Bệnh viện 199 đặc biệt quan tâm đến công tác Đảng cũng như đầu tư nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ y, bác sỹ để nâng uy tín, thương hiệu của bệnh viện lên một tầm cao hơn. Thay mặt lãnh đạo Bộ CA, Thứ trưởng trao tặng Bệnh viện 50 triệu đồng và tặng hàng chục suất quà cho CBCS là thân nhân liệt sĩ, thương binh, người có công với cách mạng đang chữa bệnh tại đây.
Trung tướng Bùi Quang Bền và đoàn cũng đã đến thăm, tặng quà Mẹ VNAH Nguyễn Thị Cơ (trú 156/6-Hùng Vương); thăm, tặng quà cho Đại tá Nguyễn Rã - Anh hùng LLVTND, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, nguyên Giám đốc Công an tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng; thăm và tặng 50 triệu đồng cho Cảnh sát PCCC TP Đà Nẵng vì đã có thành tích khống chế, dập tắt đám cháy lớn tại cửa hàng mỹ phẩm Phú Hòa trên đường Lý Thái Tổ vào ngày 12-7 vừa qua.

Tin, ảnh: Đông A

Thứ Tư, 22 tháng 10, 2014

[Hình ảnh] Chuyến đi về nguồn tháng 06/2007












[Tin tức] Ly kỳ tượng vàng cổ: Tiền vào tay, họa vào người

Ly kỳ tượng vàng cổ: Tiền vào tay, họa vào người

Sau khi bán được bức tượng vàng quí hiếm giá 68 lượng vàng, gia đình ông Kình bỗng chốc thành tỷ phú. Niềm vui chưa trọn thì công an đến nhà khám xét.

Nghèo lại hoàn nghèo

Sau khi bán bức tượng cổ bằng vàng, ông Kình ôm 68 lượng vàng về chia một ít cho ông Chờ - ngườiđào bức tượng với con trai ông, và tổ chức ăn mừng.

Ông Kình kể: Do số vàng quá lớn nên khi mang về cả nhà ông tìm cách giấu. Lúc đầu, ông cất dưới mái tranh nhà. Sau đó thấy không ổn nên ông đem ra giấu trong cây rơm. Thấy cũng không yên tâm nên giữa khuya cả 2 vợ chồng bí mật ra sau vườn đào hố chôn số vàng.

Về số phận bức tượng vàng, sau khi mua được, Bằng gọi điện cho Đào Danh Đức (1953) trú 18, Lê Công Kiều, Q.1, TP.HCM nói rằng mình có bức tượng cổ bằng vàng quí hiếm muốn bán. Ngay sáng hôm sau trùm buôn đồ cổ Đào Danh Đức đáp máy bay ra Đà Nẵng để xem và mua.
 Bức tượng cổ thần Siva bằng vàng do cha con ông Kình đào được ở khu đồi ở làng Phú Long xã Đại Thắng, Đại Lộc Quảng Nam vào năm 1997
Bức tượng cổ thần Siva bằng vàng do cha con ông Kình đào được ở khu đồi ở làng Phú Long xã Đại Thắng, Đại Lộc Quảng Nam vào năm 1997

Khi Đức ra Đà Nẵng và tìm đến nhà Bằng (56/1 Trần Bình Trọng) gặp Bằng và Tiến để xem bức tượng. Bằng ra giá 1,1 tỷ đồng (tương đương 220 lượng vàng lúc bấy giờ).

Nghe Bằng ra giá quá cao, Đức bảo dưới 1 tỷ mới có thể tiếp tục đàm phán để mua và sau đó về lại Sài Gòn.

Hơn 2 ngày sau Bằng và Tiến mang bức tượng vào TP.HCM và gọi điện cho Đức để bán với giá dưới 1 tỷ đồng. Qua xem xét, Đức trả 810 triệu đồng (tương đương hơn 160 lượng vàng lúc bấy giờ), Bằng và Tiến đồng ý bán.

Trở lại câu chuyện bỗng chốc có trong tay hàng chục cây vàng, gia đình ông Kình trở thành tỷ phú của làng. Hai tay buôn tượng cổ Bằng và Tiến nhờ phi vụ này cũng kiếm được gần 100 cây vàng chia nhau.

Cả gia đình ông Kình và hai tay buôn tượng cổ sống trong giàu có chưa được mấy ngày thì công an Quảng Nam nhận được thông tin và tiến hành khởi tố vụ án để điều tra.

Ông Kình là nhân vật đầu tiên của manh mối vụ buôn bán cổ vật này ngay sau đó bị bắt tạm giam cùng với Bằng và Tiến.

"Lúc đó, thấy công an đến nhà hỏi về bức tượng bán cho ai tui thành thật khai báo, vì tui nghĩ mìnhđào được nên đem bán đâu biết rằng mình phạm tội buôn bán hàng cấm... " - ông Kình nhớ lại. Toàn bộsố vàng bán bức tượng sau đó gia đình ông Kình đem giao nộp cho công an.

"Đến bây giờ đã hơn 15 năm trôi qua, mỗi khi nhớ lại bức tượng cổ bằng vàng mà thằng con trai tuiđào được sau đó tui đem bán rồi bị bắt giam tui cứ nghĩ đó là giấc mơ chú à... " - ông Kình tâm sự.

Lần theo dấu vết tượng cổ

Lần theo lời khai của ông Kình cùng hai tay buôn đồ cổ Tiến và Bằng, cơ quan điều tra công an Quảng Nam tiếp tục bắt tạm giam Đào Danh Đức và di lí về Quảng Nam; đồng thời tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở và kịp thời thu hồi bức tượng cổ bằng vàng mà Đức mua lại.

Đại tá Nguyễn Hạnh Kiểm, nguyên Giám đốc Công an Quảng Nam, người trực tiếp chỉ huy chuyên án điều tra truy tìm bức tượng cổ bằng vàng, nói rằng nếu không kịp thời truy tìm chắc chắn bức tượng cổquí hiếm này sẽ bị bán ra nước ngoài. Lúc đó quốc gia mất một bảo vật có một không hai trên thếgiới.

Một cán bộ điều tra công an Quảng Nam kể rằng sau khi bị bắt tạm giam, ông Kình đã thành khẩn khai báo và đưa về nhà chỉ nơi cất giấu vàng. Khi đào lên thấy hàng chục cây vàng, cơ quan điều tra mới khẳng định việc mua bán bức tượng cổ là có thật.

Song, bức tượng cổ đó giờ ở đâu thì cần phải nhanh chóng truy tìm.

Đại tá Nguyễn Hạnh Kiểm nhớ lại: Khi có đầy đủ thông tin từ lời khai của ông Kình, Ban chuyên án quyết định cử nhiều nhóm điều tra viên lên đường vào TP.HCM và lần ra nơi ở của Đào Danh Đức. Rất may bức tượng vẫn còn nguyên và sau đó bức tượng được công an Quảng Nam thu giữ.

Ngay sau khi bức tượng cổ bằng vàng được thu hồi, công an Quảng Nam cho ông Kình tại ngoại sau khi bị tạm giam 1 tháng 3 ngày.

Qua giám định, cơ quan chức năng khẳng định: Bức tượng cổ bằng vàng là tượng thần Siva, có niên đại vào khoảng thế kỷ thứ X, là một tác phẩm rất có giá trị về lịch sử văn hóa Chămpa và có giá trịkinh tế lớn nên nghiêm cấm mua bán, chiếm giữ trái phép.

Từ cơ sở này, công an Quảng Nam đã khởi tố vụ án, lần lượt khởi tố, bắt giam các bị can Nguyễn Đình Bằng, Nguyễn Đăng Tiến, Đào Danh Đức về tội "Buôn bán hàng cấm".

Còn ông Nguyễn Văn Kình tội "Chiếm giữ trái phép tài sản XHCN và buôn bán hàng cấm".

Do khi bị bắt, ông Nguyễn Văn Kình đã thành khẩn khai báo, hơn nữa do nhận thức còn hạn chế nên sau khi bị bắt giam 1 tháng 3 ngày, ông Kình đã được trả tự do. Các bị cáo còn lại bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam đưa ra xét xử vào đầu năm 1998 với mức án từ 3 đến 5 năm tù về tội "Buôn bán hàng cấm".



Theo Vũ Trung - VietnamNet

Thứ Hai, 9 tháng 12, 2013

Tiểu sử

Họ và tên: NGUYỄN HẠNH KIỂM
Sinh nhật: 10/08.
Quê quán: xã Điện Hòa, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Sự nghiệp:
- Năm 1996: Giám đốc Công an tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng.
- Từ năm 1997 đến 2002: Giám đốc Công an tỉnh Quảng Nam.
- Từ năm 2002 đến 2006: Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy Quảng Nam.
- Từ năm 2008 đến nay: Phó Ban liên lạc An ninh khu 5 thời kỳ chống Mỹ; Chủ nhiệm CLB Công an hưu thành phố Đà Nẵng.

Thứ Năm, 9 tháng 5, 2013

[Bài viết] Cảm xúc Tháng 5 - Nguyễn Nho Chinh

Cảm xúc Tháng 5

Cập nhật: Thứ năm, 9/5/2013 - 0h0'
http://cadn.com.vn/new/105_78249_cam-xuc-thang-5.aspx


(Cadn.com.vn) - Tôi đã sống và trải qua nhiều cung bậc cảm xúc của người lính an ninh nội bộ mỗi dịp tháng 5 về. Khi đã ngấp nghé tuổi 50, đồng đội cùng thời nhiều người tóc đã ngã màu, tôi càng nghĩ nhiều, chiêm nghiệm nhiều hơn về nghề, về đồng đội, về quãng thời gian đã qua.
Trong truyền thống 58 năm xây dựng và trưởng thành của lực lượng An ninh chính trị nội bộ (ANCTNB) cả nước, hơn 48 năm của lực lượng ANCTNB Đà Nẵng là công sức đóng góp của nhiều thế hệ. Có nhiều đồng chí suốt cả quá trình công tác đều gắn bó với lĩnh vực này; có những đồng chí do yêu cầu nhiệm vụ phân công của tổ chức phải chuyển đến đơn vị khác. Tôi may mắn được công tác ở lực lượng này suốt 23 năm qua.
Năm 1990, sau khi tốt nghiệp Đại học An ninh nhân dân (nay là Học viện An ninh), tôi về nhận công tác tại Phòng ANNB CA tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng. Trưởng phòng lúc bây giờ là anh Nguyễn Xuân Tùng. Anh đã để lại trong tôi rất nhiều ấn tượng về một vị thủ trưởng đầy cá tính. Điều tôi không thể nào quên là bài test đầu tiên khi chúng tôi mới về nhận công tác. Đó là bài kiểm tra thực tiễn, không có trong giáo trình, bài giảng trên giảng đường, nhưng rất sinh động và thiết thực. Có lẽ điều đó làm cho chúng tôi thêm yêu nghề, hưng phấn nhiều hơn với công việc.
Năm 1991, Phòng ANNB chia tách thành Phòng An ninh Kinh tế (PA17) do anh Nguyễn Xuân Tùng làm Trưởng phòng và Phòng An ninh Văn hóa - Tư tưởng (PA25) do anh Phan Xuân Sang làm Trưởng phòng. Tôi công tác ở PA25 cho đến năm 1997. Có lẽ với tôi, đây là quãng thời gian in đậm dấu ấn về một Phòng ANCTNB có một “dàn trinh sát đẳng cấp”, một tập thể lãnh đạo và một vị chỉ huy đầy cá tính, đã quy tụ, lãnh đạo xây dựng đơn vị vững mạnh, thật sự khẳng định, phát huy vai trò, uy tín của một đơn vị nghiệp vụ bảo vệ nội bộ ở địa phương.
Trong những năm tháng đó, đa số anh em chúng tôi ở chung khu tập thể Ba Đình. Cả một tầng lầu mấy chục phòng nhưng chỉ có một phòng vệ sinh, cứ xếp hàng chờ nhau lấy nước sinh hoạt mỗi sáng, trưa, chiều. Ba, bốn anh em độc thân cùng chung một căn phòng nhỏ, khi thì tự tổ chức nấu ăn, khi ăn cơm bụi, thi thoảng tụ tập về nhà những người anh trong đơn vị “ăn tươi”... Tình nghĩa nặng mãi đến bây giờ.
Năm 1997, đơn vị chia tách thành hai, một nửa quân số vào CA tỉnh Quảng Nam, anh Trương Quang Vinh làm Trưởng phòng. Những ngày tháng đầu, căn phòng chia hai, một nửa để làm việc, nửa kia là nơi ở của Trưởng phòng. Vì thế, anh em đồng đội sống cảnh xa nhà càng gắn bó, càng yêu thương nhau hơn.
Cuối năm 2000, tôi chuyển công tác về PA25 CATP Đà Nẵng (nay là PA83), lúc bây giờ anh Phan Xuân Sang vẫn còn làm Trưởng phòng. Đến năm 2001, khi anh Sang được đề bạt giữ cương vị Phó Giám đốc CATP, anh Nguyễn Ngọc Dương được bổ nhiệm Trưởng phòng, kể từ đó cho đến đầu năm 2012, anh nghỉ chế độ hưu. Thời gian trôi đi thật mau, để lại hình ảnh một Trưởng phòng hiền lành với những kỷ niệm không phai...
Trong 23 năm ấy, trong tôi lắng đọng những dấu ấn khó quên. Nhưng tôi nhớ nhiều về quãng thời gian làm trinh sát và từng bước được đào tạo trưởng thành trong thực tiễn, gắn liền với tuổi trẻ đầy đam mê nghề nghiệp và khát vọng cống hiến. Nhớ không nguôi anh Phan Xuân Sang, người lãnh đạo, một người anh đã thổi vào tôi tâm thế làm việc vì lòng tự trọng, biết đứng dậy bước đi khi vấp ngã, biết xấu hổ khi không hoàn thành nhiệm vụ. Tâm thế đó đã nuôi dưỡng, giúp cho tôi biết giữ ngọn lửa yêu nghề, bầu nhiệt huyết, sự khát khao cống hiến. Bây giờ, mỗi lần nhắc đến người thủ trưởng đã khuất, trong chúng tôi ai cũng dâng tràn niềm kính trọng, nhớ thương.
Thời gian cứ trôi đi, lần lượt những đồng chí đến tuổi nghỉ hưu, những đồng chí thuyên chuyển công tác và có người đã đi xa, thật xa... Tôi đã chứng kiến không biết bao lần chia tay lắng đọng, thật nhiều cảm xúc. Nhìn thế hệ đàn em căng tràn nhựa sống bỗng thấy trách nhiệm càng nặng hơn.
Nhớ mỗi lần đến thăm anh Nguyễn Hạnh Kiểm – nguyên Giám đốc CA tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, anh hay dặn dò: Thời các anh trước đây đánh địch khó nhưng dễ vì địch - ta phân biệt rõ ràng, còn đánh địch bây giờ càng khó hơn vì rất khó phân biệt, nó ở ngay bên cạnh ta, ở trong ta... Nói vậy để thấy, mặt trận thầm lặng của người lính ANCTNB cam go, quyết liệt, thách thức đến nhường nào.
Tháng 5 về gợi bao cảm xúc trong mỗi người. Riêng những CBCS chính trị nội bộ và tư tưởng - văn hóa đây không chỉ là thời điểm tự hào, tưởng nhớ mà còn là khoảng thời gian chiêm nghiệm, soi lại chính mình, đòi hỏi những nỗ lực mới, tiếp tục cống hiến, trưởng thành, góp phần bảo vệ bình yên và hạnh phúc cho nhân dân.
Nguyễn Nho Chinh

CADN

Thứ Năm, 16 tháng 8, 2012

[Bài viết] Chuyện ngày ấy - Đại tá Lê Văn Bảy

Chuyện ngày ấy

Cập nhật: Thứ năm, 16/8/2012 - 0h0'

(Cadn.com.vn) - Chuyện dưới đây do Đại tá Lê Văn Bảy, nguyên Phó Giám đốc CA Quảng Nam kể, cho thấy không khí sôi nổi, nhiều điều thú vị trong thời điểm chia tách tỉnh 15 năm trước. Qua câu chuyện, ta còn thấy rõ bước trưởng thành của CA Quảng Nam.
 Đại tá Lê Văn Bảy
Còn nhớ, cách đây hơn 15 năm (1-1-1997), tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng được chia tách thành 2 đơn vị hành chính trực thuộc T.Ư. Theo đó, CA tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng cũng được chia tách thành hai đơn vị trực thuộc Bộ. Trong không khí hân hoan được chào đón một đơn vị hành chính cấp tỉnh ra đời, tâm trạng của nhân dân, cán bộ và lực lượng CA Quảng Nam-Đà Nẵng thật khó mà tả xiết, mừng vui cũng nhiều nhưng lo toan cũng không ít.
Trong biết bao bộn bề công việc ấy, với trách nhiệm là Trưởng phòng Tổ chức cán bộ, tôi thấy nhiệm vụ của mình lúc bấy giờ càng nặng nề hơn bao giờ hết. Nhưng cũng chưa có một phương án nào có tính khả dĩ để tham mưu cho Ban giám đốc. Vậy nhưng lúc này, đồng chí Nguyễn Hạnh Kiểm (Giám đốc CA Quảng Nam – Đà Nẵng lúc này) đã có một quyết định mà cho đến nay tôi vẫn thấy là hết sức sáng suốt, đó là: “Nơi nào động thì cho động, nơi nào tịnh thì cố gắng giữ nguyên cho tịnh”. Tức là CA 14 huyện, thị, TP không động đến mà chỉ chia tách các đơn vị trực thuộc CA tỉnh. Trong 14 CA địa phương trực thuộc tỉnh lúc bấy giờ, theo đơn vị hành chính mới thì có 12 địa phương thuộc CA tỉnh Quảng Nam, chỉ còn CATP Đà Nẵng và H. Hòa Vang là trực thuộc CA Đà Nẵng. Nếu ổn định được các địa phương này thì sẽ giải quyết được tình hình ANTT ngay từ cơ sở, tạo điều kiện cho hai địa phương củng cố các đơn vị nghiệp vụ cấp tỉnh.
Thế nhưng, khi bắt tay vào thực hiện cũng không dễ chút nào. Người tự nguyện ra đi thì ít, người bắt buộc phải chấp nhận thì nhiều, và người tìm đủ mọi lý do để ở lại cũng không phải là hiếm. Có một việc mà bây giờ kể lại, anh Nguyễn Hạnh Kiểm cũng bật cười, chứ hồi ấy anh không hề hay biết. Đó là đồng chí Hoan (Cục Trưởng Cục hồ sơ của Bộ) vào Quảng Nam-Đà Nẵng công tác trong dịp CA tỉnh đang bàn việc chia tách. Lúc bấy giờ, đồng chí Hoan cũng có người cháu đang công tác tại Phòng Hồ sơ, do vậy người cháu này nhờ đồng chí Hoan xin Ban giám đốc để được ở lại Đà Nẵng. Nể tình cháu, tối hôm đó đồng chí Hoan đến nhà anh Kiểm.
Sau khi rót nước mời chào, anh Kiểm mới giới thiệu với mấy người trong nhà là anh Hoan - Cục trưởng ở Bộ, vào công tác nhân tiện ghé thăm gia đình. Mẹ của anh Kiểm nghe nói có ông ở Bộ vào thăm liền nói: “Tôi chừ chỉ còn có mình hắn. Trong kháng chiến hắn cũng tham gia chống Mỹ, sau hòa bình hắn cũng đi Campuchia. Tổ chức phân công đâu hắn đi đó chứ chẳng nề hà gì. Nhưng chừ tôi già rồi, xin Bộ cho hắn được ở lại Đà Nẵng, chứ hắn phải đi vào Quảng Nam thì khó cho tôi quá”. Anh Hoan sau khi nghe vậy đành uống nước và hỏi thăm gia đình rồi ra về. Còn chuyện xin cho đứa cháu thì không nói được lời nào. Thế mới biết, cuộc ra đi ngày ấy có tác động đến tâm tư, tình cảm của mọi người, mọi nhà như thế nào.
 Lễ đón tiếp các cơ quan của tỉnh vào tỉnh lỵ Tam Kỳ (tháng 2-1997).
Khó khăn rồi cũng qua, cái gì đến rồi cũng phải đến. Mặc dù trong lúc chuẩn bị về nhân sự có nhiều tác động là vậy, nhưng đến khi có quyết định của cấp có thẩm quyền thì ý thức chấp hành của CBCS đã trở thành thường trực trong mỗi người, ai nấy đều lo thu xếp để lên đường. Khi vào đến Tam Kỳ, mọi việc càng khó khăn gấp bội, cả mấy trăm CBCS ở trong 3 dãy nhà tạm, thấp lè tè, vừa là chỗ làm việc, vừa là nơi ăn nghỉ. Có nhiều đồng chí tối phải ra ngủ nhờ nhà dân. Phương tiện và điều kiện công tác còn nhiều thiếu thốn. Trong khi đó, địa bàn thì mới, hoạt động của các loại tội phạm có nhiều diễn biến phức tạp hơn khi tỉnh chưa vào.
Bằng bản lĩnh và trí tuệ của người CBCS CA, từ lãnh đạo đến CBCS, tùy theo nhiệm vụ và vị trí của từng người, mỗi đồng chí đều tìm mọi cách để khắc phục khó khăn, bắt tay vào nhiệm vụ mới. Điều đáng nói, chính từ trong khó khăn, thử thách mới thấy hết tình thương yêu, đùm bọc, chia ngọt xẻ bùi, đồng cam cộng khổ trong CBCS. Nhờ vậy, khối đoàn kết thống nhất trong suy nghĩ cũng như hành động ở từng đơn vị, từng tổ chức cơ sở Đảng được thể hiện khá rõ nét. Được sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, sự quan tâm lãnh đạo và tạo điều kiện của Bộ CA, những khó khăn ban đầu từng bước được tháo gỡ. Trụ sở cơ quan, phương tiện làm việc, các trang thiết bị phục vụ công tác ngày càng được tăng cường. Không khí làm việc và ý thức trách nhiệm của từng CBCS, từng đơn vị ngày càng đi vào thế ổn định. Đội ngũ cán bộ ngày một trưởng thành. Nhiều đồng chí được bổ nhiệm vào các chức vụ lãnh đạo, chỉ huy từ cấp đội đến cấp giám đốc. Chất lượng, hiệu quả công việc ngày càng tốt hơn, góp phần quan trọng đảm bảo ANCT, TTXH, tạo điều kiện cho KT-XH của tỉnh phát triển.
Cho đến bây giờ, sau hơn 15 năm nhìn lại, một CA Quảng Nam với bề dày truyền thống được tôi luyện qua các giai đoạn lịch sử của cách mạng, của quê hương. Biết rằng vẫn còn học tập và phấn đấu nhiều hơn nữa, song lực lượng CA Quảng Nam có quyền tự hào về những gì mình đã làm được. Xứng đáng là lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng của các thế hệ CA tiền bối để giữ vững sự bình yên và hạnh phúc cho nhân dân trên quê hương đất Quảng anh hùng.
Bão Bình (ghi)
CADN

Thứ Năm, 28 tháng 6, 2012

[Tin] Đảng ủy CATP Đà Nẵng lấy ý kiến góp ý của các đồng chí lãnh đạo CA hưu trí

Đà Nẵng: Đảng ủy CATP Đà Nẵng lấy ý kiến góp ý của các đồng chí lãnh đạo CA hưu trí

Cập nhật: Thứ năm, 28/6/2012 - 0h0'

Các đồng chí lãnh đạo CA hưu trí đóng góp ý kiến. Ảnh: K.T 

(Cadn.com.vn) - Tiếp tục thực hiện Nghị quyết T.Ư 4 (NQT.Ư4) về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, ngày 27-6, Đảng ủy CATP tổ chức Hội nghị lấy ý kiến góp ý đối với tập thể và cá nhân Ban thường vụ Đảng ủy CATP. Hội nghị do Đại tá Nguyễn Văn Sơn - Ủy viên Ban thường vụ Thành ủy, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc CATP chủ trì, với sự tham dự của các đồng chí nguyên là Giám đốc, Phó Giám đốc CA tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng và CATP Đà Nẵng, các đồng chí trong Ban Thường vụ Đảng ủy CATP  từ năm 1997 đến nay đã nghỉ hưu.
Sau khi nghe Đại tá Nguyễn Văn Sơn báo cáo tóm tắt một số  kết quả đạt được trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng của CATP trong thời gian qua và định hướng một số nội dung cần lấy ý kiến góp ý, các đại biểu tham dự đã đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết với mong muốn xây dựng lực lượng CATP ngày càng trong sạch, vững mạnh. Các đồng chí Nguyễn Hạnh Kiểm, Nguyễn Rã, Nguyễn Hòa, Mai Văn Dậu (nguyên là  Giám đốc, Phó Giám đốc CA tỉnh QN-ĐN, CATP Đà Nẵng) và nhiều đồng chí khác đã bày tỏ sự vui mừng, phấn khởi trước sự phát triển của Đảng bộ và của lực lượng CATP; ghi nhận những kết quả toàn lực lượng đã đạt được trong thực hiện nhiệm vụ đảm bảo ANCT-TTATXH trên địa bàn TP. 
Các đồng chí lãnh đạo CA hưu trí khẳng định Đảng ủy, Ban Giám đốc CATP đã bám sát nhiệm vụ chính trị, tập trung chỉ đạo điều tra, khám phá nhiều vụ án lớn, phức tạp, tạo uy tín và tiếng vang trong cả nước;  làm tốt công tác xây dựng lực lượng, giữ vững kỷ cương kỷ luật. Các đồng chí lãnh đạo CA hưu trí mong muốn tập thể, cá nhân Ban thường vụ Đảng ủy CATP tiếp tục đoàn kết thống nhất, lãnh đạo toàn lực lượng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao. Các đồng chí lãnh đạo CA hưu trí đề nghị Đảng ủy, Giám đốc CATP cần đi sâu cơ sở hơn nữa, quan tâm giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ một cách toàn diện cả về phẩm chất, đạo đức, năng lực, chuyên môn nghiệp vụ và xây dựng tốt các mối quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội; để xây dựng hình ảnh người CAND ngày càng đẹp hơn trong mắt người dân, để dân hiểu, dân tin, dân ủng hộ CA ngày càng nhiều hơn.
Đại tá Nguyễn Văn Sơn cảm ơn tình cảm, trách nhiệm của các đồng chí lãnh đạo CA nghỉ hưu; tiếp thu những ý kiến góp ý chân tình, đầy trách nhiệm của các đồng chí cho tập thể và cá nhân Ban thường vụ Đảng ủy CATP, cho lực lượng CATP và hứa sẽ cố gắng phát huy những kết quả đã đạt được, thẳng thắn nhìn nhận và khắc phục những hạn chế, yếu kém để xây dựng lực lượng CATP thực sự trong sạch, vững mạnh, hoàn thành tốt nhiệm vụ giữ gìn ANCT-TTATXH mà Đảng và nhân dân đã tin tưởng giao phó.
Kim Thanh
CADN

Thứ Năm, 25 tháng 8, 2011

[Tin] Thấm sâu văn hóa phục vụ nhân dân

Thấm sâu văn hóa phục vụ nhân dân

Cập nhật: Thứ năm, 25/8/2011 - 0h0'

(Cadn.com.vn) - Hội thảo “Xây dựng nếp sống văn hóa vì nhân dân phục vụ” do CATP Đà Nẵng tổ chức vừa khép lại với nhiều tham luận sâu sắc, đầy tâm huyết, mở ra nhiều hướng rất khả thi để thực hiện trong văn hóa ứng xử của CBCS CATP.
Nhiều vị cao niên, có uy tín trong giới văn hóa, học thuật như các học giả Nguyễn Đình An, Bùi Công Minh; hoặc đang giữ cương vị quan trọng của TP như Th.S Bùi Văn Tiếng – Trưởng ban Tổ chức Thành ủy, Võ Công Trí – Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy;  đã từng giữ cương vị quan trọng của lực lượng CA như đại tá Nguyễn Hạnh Kiểm – nguyên Giám đốc CAQN-ĐN, cùng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chỉ huy đương nhiệm của các đơn vị, địa phương thuộc CATP có mặt trong hội thảo đã nói lên tầm quan trọng và sự thu hút của một chủ đề rất thiết thực hiện nay không chỉ đối với lực lượng CAND.
Các tham luận trình bày tại hội thảo mang đến nhiều tư liệu quý có sức thuyết phục cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn để biện giải và đặt ra nhiều yêu cầu thiết thực làm căn cứ, tiền đề, cùng những chuẩn mực cụ thể làm thước đo để “Xây dựng nếp sống văn hóa vì nhân dân phục vụ” trong lực lượng CATP .
Điều dễ nhận ra trong hội thảo là tâm huyết, trăn trở của các diễn – thính giả với công tác xây dựng lực lượng CAND. Các diễn giả đã đầu tư nghiên cứu công phu, sâu sắc chủ đề hội thảo để chỉ ra những vấn đề cốt lõi, những ưu điểm cùng những tồn tại thiếu sót trong ứng xử của CBCS trong lực lượng CA, qua đó đặt ra những chuẩn mực thực hiện phép ứng xử trong công tác, chiến đấu, trong quan hệ đời thường của CBCS CAND dưới góc nhìn văn hóa, pháp luật, nhân văn.
Những tham luận “đầy chất” với hàm lượng trí tuệ, được chắt lọc, kiểm nghiệm qua thực tiễn công tác, soi rọi từ những đúc kết từ lịch sử của các học giả có uy tín, những nhà làm công tác tổ chức, tuyên giáo về văn hóa ứng xử đã cho thấy “Xây dựng nếp sống văn hóa vì nhân dân phục vụ” là vấn đề không mới, nhưng luôn luôn mới. Không mới vì đấy là vấn đề chúng ta đã làm trong suốt quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, nó đòi hỏi mỗi cán bộ phải là công bộc của dân, là đầy tớ thật trung thành và tận tụy với dân. Muốn làm được điều đó tự thân mỗi hành xử của cán bộ trong thực thi công vụ và trong cuộc sống đời thường phải bao hàm là những hành vi có văn hóa và tôn trọng pháp luật. Cho rằng đây là vấn đề mới vì thực tiễn cuộc sống, chiến đấu, công tác của lực lượng CAND vẫn còn nhiều CBCS thiếu sót, sai lầm trong lời nói, hành vi, trong cách ứng xử đối với nhân dân, thậm chí có lúc, có nơi còn có hành vi vi phạm pháp luật. Điều đó đòi hỏi phải “xây dựng nếp sống vì nhân dân phục vụ” trong lực lượng CAND nói chung, trong CATP nói riêng, biến nó thành yêu cầu chính, là công tác cần kíp trong  tổ chức, xây dựng lực lượng để làm cho mỗi CBCS khi thực thi công vụ hoặc trong cuộc sống đời thường luôn  là người có văn hóa, thượng tôn pháp luật.
Yếu tố văn hóa phục vụ nhân dân phải thấm sâu, trở thành nội tại, thành bản chất tốt đẹp trong ứng xử của mỗi CBCS CATP. Và, đó cũng là điều quan trọng nhất, là mục tiêu của hội thảo rất quan trọng này đặt ra. Để biến những nội dung đầy tâm huyết và khoa học của các tham luận, cùng những mục tiêu mà hội thảo đặt ra thành hiện thực, điều quan trọng là mỗi cấp ủy, lãnh đạo CA các đơn vị địa phương phải triển khai thực hiện, đưa “nếp sống văn hóa vì nhân dân phục vụ” thành nội dung thường xuyên trong công tác của đơn vị, địa phương mình, có vậy những mục tiêu và tâm huyết mới không dừng lại ở một cuộc hội thảo đơn thuần, hình thức.
Nguyễn Đức Dũng

CADN

Thứ Tư, 6 tháng 7, 2011

[Bài viết] Người bảo vệ buổi bình minh - Đại tá Nam Hà

Kỷ niệm 65 năm Ngày Truyền thống lực lượng An ninh Nhân dân: Người bảo vệ buổi bình minh

Cập nhật: Thứ tư, 6/7/2011 - 0h0'

Kỳ 1: Thứ gì nổi trên nước lụt?
(Cadn.com.vn) - Phòng Bảo vệ Chính trị (BVCT) CATP Đà Nẵng ngày nay kế thừa truyền thống vẻ vang của 2 đơn vị tiền thân là Phòng BVCT trực thuộc Ty An ninh Quảng Đà và Ty An ninh Quảng Nam, sau sáp nhập thành một đơn vị của Ty CA Quảng Nam - Đà Nẵng (1975) rồi lại chia tách thành 2 đơn vị của CATP Đà Nẵng và CA tỉnh Quảng Nam (1997). Trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, Phòng BVCT lại quy tụ nhiều cán bộ, trinh sát giỏi của Hải Phòng, Thanh Hóa cùng nhiều địa phương anh em, rồi từ đây, nhiều CBCS phân tán về với Quảng Nam khi tách tỉnh. Tách - nhập, quy tụ - phân tán là do lịch sử tạo nên, nhưng xuyên suốt quá trình ấy là bảng vàng những chiến công xuất sắc còn ghi đậm dấu ấn trong sự nghiệp bảo vệ vững chắc an ninh chính trị, được Đảng và nhân dân ghi nhận. Kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống lực lượng An ninh nhân dân (12-7-1946 – 12-7-2011), Báo Công an TP Đà Nẵng điểm lại những chiến công nổi bật sau ngày đất nước thống nhất của Phòng BVCT qua hồi ức Đại tá Nam Hà - nguyên Phó Giám đốc CA Quảng Nam - Đà Nẵng (QN-ĐN) và Đại tá - Nhà thơ Trần  Xuân Thành, nguyên Phó Chỉ huy Ban An ninh, CA QN-ĐN.

- Tụi hắn cướp chính quyền tới nơi rồi kìa!
Đồng chí Nam Hà, Bí thư Chi bộ Phòng BVCT Ty CA Quảng Nam – Đà Nẵng phụ trách mảng chống gián điệp nghe câu này khi ghé H. Thăng Bình vào một ngày tháng 7-1975.
Ông Nam Hà giờ đây đã là một ông lão tóc bạc trắng, sống bình dị trong căn nhà cũ trong con hẻm đường Ông Ích Khiêm. Ông kể: “Ngày 10-10-1975, Ty CA Quảng Nam và Ty CA Quảng Đà sáp nhập thành Ty CA QN-ĐN. Lúc đó Phòng BVCT chưa có chức danh Trưởng phòng, anh Lê Lực, Phó ty, phụ trách chung. Tôi và các anh Trần Xuân Thành, Cao Xuân Thuyết, Trần Khắc Ảm phụ trách mỗi người một mảng. Hồi đó mới giải phóng, khói súng còn chưa tan, công tác BVCT nặng lắm. “Mặt trận Hải Âu” là một trong những vụ án lớn nhất mà ta phá được ngay trong năm 1975. Vụ này ban đầu do anh Trần Xuân Thành, phụ trách mảng chống phản động chỉ huy, anh Lê Lực chỉ đạo trực tiếp, nhưng sau đó chuyển sang tôi chỉ huy, anh Hoàng Văn Lai - Trưởng Ty, trực tiếp chỉ đạo”.
Thực ra, đã phát hiện nhóm đối tượng khả nghi từ tháng 7-1975, nhưng mãi đến tháng 11-1975, Ty CA QN-ĐN vẫn chưa thu thập thêm được manh mối nào, nên chưa lập chuyên án mà mới chỉ lập “hiềm nghi” mang bí số TB75 và có lúc đã định ngừng. Thế nhưng, trước đó, khi đi từ Núi Thành về đến Thăng Bình, ông Nam Hà có trao đổi với một cơ sở. Ông Nam Hà nhớ như in cuộc trao đổi này:
- Tình hình có chi không?
- Có chi là có chi! Tụi hắn sắp cướp chính quyền tới nơi rồi kìa.
- Thiệt không?
- Đi mà hỏi tụi thằng X, Y, Z là biết liền.
Đại tá Nam Hà thời làm Trưởng Phòng BVCT Ty
CA Quảng Nam – Đà Nẵng. Ảnh: NVCC 
Theo các nguồn tin cơ sở báo cho đồng chí Nam Hà, một nhóm đối tượng trong hiềm nghi TB75 gồm Tin, Hùng đã may áo quần, chuẩn bị vũ khí, vạch kế hoạch tấn công Thăng Bình rồi. Sau khi đồng chí Nam Hà báo cáo, Trưởng Ty CA QN-ĐN Hoàng Văn Lai nói với đồng chí Phó Ty phụ trách Phòng BVCT Lê Lực, đại ý: Anh tạm thời quản lý luôn mảng chống gián điệp, để Nam Hà lo vụ Thăng Bình, đồng chí ấy chỉ chuyên tâm vô một vụ ni cho đến khi phá được mới thôi. Bắt đầu từ đây, “hiềm nghi” TB75 được lập thành Chuyên án TB75, do đồng chí Hoàng Văn Lai làm trưởng ban chuyên án, đồng chí Nam Hà làm thành viên thường trực.
Ông Nam Hà kể: “Sau khi nhận nhiệm vụ, tôi đề nghị các đồng chí Nguyễn Hạnh Kiểm, Nguyễn Thành Long, Phạm Thị Xuân và một số TS dày dạn khác của Phòng BVCT cùng tham gia. Anh Long cắm ở Quế Sơn, anh Kiểm và anh Ân (người gốc Quế Sơn) cắm ở Thăng Bình, chị Xuân cắm ở Tam Kỳ, sau chuyển sang Thăng Bình hỗ trợ anh Ân, anh Kiểm. Về phía địa phương thì có anh Nhuận - Phó CAH Quế Sơn và anh Tấn - Phó CAH Thăng Bình cùng tham gia”.
Sau gần một tháng điều tra, bằng nhiều biện pháp nghiệp vụ và trải qua những tình huống khó khăn, cuối cùng, Ban Chuyên án TB75 đã bóc tách lớp vỏ dày của Mặt trận Hải Âu, dần dần thu thập tư liệu, chứng cứ về một trong những tổ chức phản động có vũ trang đầu tiên trên đất QN-ĐN sau ngày giải phóng. Ông Nam Hà kể: “Bọn chúng lấy lực lượng gọi là Thanh - Sinh - Việt - Quốc. Thanh là thanh niên. Sinh là sinh viên. Việt là Việt Nam. Quốc là Quốc dân Đảng. Chúng tập hợp nhau trong một tổ chức gọi là Mặt trận Hải Âu, hoạt động chủ yếu ở Thăng Bình. Âm mưu ngông cuồng của bọn chúng là cướp chính quyền ở Thăng Bình, sau đó mở rộng ra Quế Sơn, Tam Kỳ, Huế, Bình Định..., gây tiếng vang, để theo đà thắng lợi nổi lên cướp chính quyền cách mạng! Tổ chức này ban đầu do tên Tin cầm đầu, nhưng bộ não của nó là tên Hùng và cánh tay mặt là tên Ba (tự nhận là Phó Chỉ huy Mặt trận Hải Âu)”.
Trong số đối tượng cầm đầu Mặt trận Hải Âu, đáng chú ý là tên Hùng, trước học linh mục ở Quy Nhơn nhưng chưa thành. Bên ngoài, Hùng không hề giữ bất kỳ chức vụ gì trong Mặt trận Hải Âu. Tuy nhiên, TS Chuyên án TB75 xác định, thực chất bên trong, Hùng là lãnh đạo cấp cao. Anh trai Hùng cũng tham gia tổ chức phản động này. Hai anh em sử dụng chính căn nhà của Hùng để cùng các đối tượng khác tổ chức may áo quần đồng phục cho quân “khởi nghĩa”, may cờ Quốc dân ĐảNG và đào hầm chôn vũ khí ở nhà bên cạnh.
Những người tham gia chế độ cũ đăng ký khai báo với chính quyền cách mạng
sau giải phóng. 
Sau khi thu thập đủ tư liệu, chứng cứ, ngày 19-12-1975, Ban Chuyên án quyết định phá án, lôi toàn bộ các đối tượng cầm đầu trong Mặt trận Hải Âu ra ánh sáng. Sự vào cuộc quyết liệt, kịp thời của Ban Chuyên án TB75 đã, có thể nói theo từ ngữ hiện nay, “cứu một bàn thua trông thấy”. Bởi, vào nửa cuối tháng 11-1975 thì chuyên án mới triển khai, đến đầu tháng 12-1975 mới thu thập được tư liệu, chứng cứ. Thế nhưng, không ai lường trước rằng, nhóm đối tượng Mặt trận Hải Âu đã định trước ngày giờ “khởi nghĩa” là 20-12-1975, đúng một ngày trước khi nhóm lãnh đạo bị ta bắt giữ. Nghĩa là, hoặc chỉ ngần ngừ một thời gian ngắn nữa, hoặc Ban chuyên án thất bại, thì rất có thể bọn phản động đã kịp ra tay!
Ông Nam Hà nhớ lại, sau thắng lợi của Chuyên án TB75, ông Hồ Nghinh - Bí thư Tỉnh ủy QN-ĐN thăm chúc mừng tập thể Phòng BVCT và các thành viên Ban chuyên án. Ông Hồ Nghinh đánh giá rất cao thắng lợi của lực lượng an ninh. Tuy nhiên, ông cũng lưu ý rằng: Thắng lợi của Chuyên án TB75 chỉ ví như “quàu được mớ rèo rác nổi bên trên, còn cây gỗ to trôi chìm trong lòng nước lụt thì vẫn chưa vớt lên được”.
“Cây gỗ to” mà ông Hồ Nghinh đề cập là gì?
Nguyễn Lê
(còn nữa)
CADN